“Ngọn đuốc sáng” giữa đại ngàn

Đăng lúc: Thứ tư - 29/05/2019 20:34 - Người đăng bài viết: tranminhhien
Ở thôn Tà Lao, xã Tà Long, huyện Đakrông, đảng viên Lê Xuân Hải (44 tuổi) như là “ngọn đuốc sáng” giữa đại ngàn, bởi anh là người tự bỏ tiền túi làm hệ thống dẫn nước về tận từng nóc nhà sản cho dân bản sử dụng và cũng là người tiên phong kêu gọi, vận động nhân dân cùng chung tay, góp sức làm cầu bắc qua con suối Tà Lao giúp người dân sản xuất, thu hoạch nông sản được thuận lợi hơn…
Dòng nước mát lành từ đầu nguồn khe Kha Khoa được anh Hải dẫn về cho dân bản sử dụng

Dòng nước mát lành từ đầu nguồn khe Kha Khoa được anh Hải dẫn về cho dân bản sử dụng

Trước khi gặp anh Lê Xuân Hải, Bí thư Đảng ủy xã Tà Long Hồ Thị Cam giới thiệu với tôi rằng, năm 1994, anh Hải được bầu vào Hội đồng nhân dân xã. Sau một nhiệm kỳ thì được chuyển qua làm công tác văn hóa thông tin. Ít lâu sau, anh đi học ngành kinh tế tại Trường Trung cấp Nông nghiệp (Gio Linh) và sau đó liên thông lên đại học. Học xong, anh Hải được bố trí làm Phó công an xã rồi đảm nhiệm vị trí công chức tư pháp – hộ tịch cho đến nay. “Năm 2014, anh Hải trở thành đảng viên chính thức và hiện tại đang nằm trong cấp ủy chi bộ thôn Tà Lao”, chị Cam nói.
Đưa nước về với bản
          Dưới cơn mưa rừng nặng hạt một ngày cuối năm, anh Hải đưa tôi về ngôi nhà gỗ 2 tầng khang trang nằm ở cuối tổ 3, thôn Tà Lao. Có thể nói, ngôi nhà gỗ của anh đẹp nhất thôn. Dẫn tôi ra phía vòi nước bằng nhựa PVC đang tuôn chảy ào ào rồi anh nói: “Ống nước này được dẫn về từ đầu nguồn khe Kha Khoa vào những năm 90, đến nay vẫn sử dụng tốt”… Đoạn anh quay vào nhà rồi kể tiếp, anh được sinh ra ở thị trấn Khe Sanh, Hướng Hóa. Năm 1990, Hải lấy vợ và chuyển cả gia đình trở về quê hương bản xứ, nơi ông bà, bố mẹ anh lớn lên. Đó là thôn Tà Lao, xã Tà Long.
“Lúc bấy giờ, đời sống của dân bản Tà Lao gặp muôn vàn khó khăn, cái gì cũng thiếu thốn. Cả thôn chỉ có vỏn vẹn 3 nóc nhà sàn với chừng 25 nhân khẩu. Đường sá chỉ là những vệt mòn nhỏ mỏng tang, chênh vênh bên vách núi, chưa có điện và cũng không có nước sạch. Khó khăn nhất là nguồn nước sinh hoạt. Để có nước phục vụ nấu nướng, người dân phải xuống suối để gánh về dùng. Tuy nhiên, con suối Tà Lao chảy qua thôn mùa hè thì kiệt nước còn mùa đông thì đục ngàu”, anh Hải nhớ lại.
          Thấy cảnh ngày ngày các mẹ các chị phải lội bộ gánh từng ống nước không được sạch về sử dụng, anh Hải cứ canh cánh trong lòng và ấp ủ ý tưởng dẫn nước sạch từ thượng nguồn về cho dân bản. Đầu năm 1992, sau nhiều ngày khảo sát địa hình địa thế, anh bàn với bố là một cán bộ công an về hưu để mượn sổ lương của bố đi thế chấp ngân hàng và vay được 3 triệu đồng. Chưa đủ, anh bỏ thêm 3 triệu đồng tiền túi và bắt chuyến xe đò duy nhất trong ngày về tận Đông Hà mua 2.000 mét ống nhựa PVC rồi ngược núi. Chưa hết, bấy giờ, đường ô tô chỉ kéo đến tận trung tâm xã. Muốn vận chuyển được số ống nhựa ấy về tận bản, anh phải vác ống lên vai và cuốc bộ gần chục cây số đường rừng. Về nhà thì trời tối mịt.
          “Sáng sớm hôm sau, tôi nhờ anh em, bạn bè kéo ống nước lên tận chân đồi A Choai H, nơi đầu nguồn khe Kha Khoa để dẫn nguồn nước sạch về bản. Phải mất 3 ngày ròng rã mới hoàn thành. Khi nước đã được dẫn về tận nhà sàn, tôi mượn cái nồi nấu rượu bằng nhôm của mẹ để làm bình chứa và gắn ống chia nước về cho các gia đình trong thôn. Từ đó, người dân Tà Lao không còn thiếu nước sạch mỗi khi mùa khô đến hay phải dùng nước bẩn mùa mưa lũ nữa”, anh Hải vui vẻ kể lại.
 
Làm cầu cho dân
          Bí thư chi bộ thôn Tà Lao Hồ Văn Quyền nhẩm tính, toàn thôn hiện có 88 hộ với 419 nhân khẩu, phân bố trên 3 tổ. Địa bàn thôn Tà Lao bị chia cắt bởi con suối Tà Lao. Vì thế nên người dân sinh sống bên này còn sản xuất, canh tác phía bên kia con suối. “Vì đất đai bị chia cắt nên dân bản phải lội qua con suối Tà Lao để trồng sắn, trồng keo lai, nuôi bò… Mùa nước cạn thì còn đỡ chứ vào mùa mưa, mọi việc sản xuất, canh tác phải ngưng lại, không làm gì được vì nước dâng lên cao, chảy rất xiết”, anh Quyền nói.
          Hôm tôi đến, trời mưa tầm tã, con suối Tà Lao cuồn cuộn chảy mang theo lượng nước đục ngàu thô bạo. Chỉ tay về phía cây cầu vừa được sửa sang vững chãi, anh Hải nói rằng, trước đây, mấy trăm người dân trong thôn đều phải lội hoặc bơi qua con suối này để đến rẫy hoặc về nhà. Bởi, ruộng lúa, rẫy sắn, rừng keo và cả chuồng bò của bà con dân bản cũng đều nằm ở bên kia con suối cả. Đến mua thu hoạch nông sản hay bán bò, người dân phải lội qua suối nên rất nguy hiểm. Đơn cử như mùa lũ năm 1999, nước lên cao và lâu rút nên nông sản của người dân thôn Tà Lao không được thu hoạch, khoai sắn đều bị hỏng. Năm đó, dân bản chịu đói.
          Không đành lòng nhìn cảnh người dân hàng ngày vất vả, bì bõm lội suối để vận chuyển từng bao sắn, gùi lúa qua dòng suối chảy xiết, anh Hải quyết tâm làm một cây cầu để giúp bà con vơi bớt nhọc nhằn. Ấy là một ngày đẹp trời giữa năm 2015, anh mời bà con dân bản tới nhà để họp bàn phương án và góp tiền làm một cây cầu bắc qua dòng suối Tà Lao. Nhưng, không ai trong thôn đồng tình vì một lý do rất giản đơn “không có tiền để góp”. Không nản chí. Lần họp thôn thứ 2, anh Hải nói với mọi người rằng anh sẽ tự bỏ tiền túi để mua vật liệu như dây cáp, thép buộc, đinh và trụ gỗ, còn bà con dân bản góp công sức để xẻ ván, chặt tre làm mặt cầu. Nghe xong, ai nấy đều phấn khởi vỗ tay và nhất trí làm theo.
          Thế rồi, anh Hải bỏ ra 25 triệu đồng để mua dây cáp, thép buộc, và trụ gỗ đem về thôn. Tiếp đó, anh cùng bà con dân bản chặt tre, xẻ ván lát sàn hoàn thiện cây cầu dài hơn 100 mét, rộng hơn 1 mét bắc qua suối Tà Lao. Từ đó đến nay, người dân thôn Tà Lao không còn lo lắng mỗi khi qua suối làm rẫy, làm nương hay buôn bán nông sản nữa. Mới đây, một trận lũ đã cuốn bay những tấm tre đan trên mặt cầu. Anh Hải phải bỏ thêm 5 triệu đồng để mua thép buộc và xăng dầu đề người dân xe gỗ ván làm lại. Nay cây cầu đã vững chải hơn trước mưa gió, nước lũ. Nụ cười lại nở trên môi những người dân chất phác Tà Lao.
 
Tiên phong trong làm ăn kinh tế
          Không chỉ là một cán bộ mẫu mực, hết lòng phục vụ nhân dân, anh Hải còn là tấm gương điển hình, tiên phong trong phong trào làm ăn phát triển kinh tế tại địa phương. “Qua quá trình làm việc, tôi được đi đây đi đó và chủ động tìm tòi về các loại cây con hợp với thổ nhưỡng, khí hậu địa phương. Năm 2005, tôi vay 3 triệu đồng từ kênh Hội Phụ nữ xã để mua một con bò giống. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau thì dịch bệnh lở mồm long móng trên gia súc hoành hành nên tôi chủ động tiêu hủy con bò để bà con làm theo. Sau đó, tôi tiếp tục vày 40 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội mua 2 con bò giống gầy đàn. Đến nay, đàn bò của nhà tôi đã tăng lên 13 con, đàn trâu 4 con đều mạnh khỏe và phát triển tốt”, anh Hải kể.
          Từ những năm 1997, anh Hải cùng vợ tích cực khai hoang vùng đồi phía bên kia con suối Tà Lao để trồng rừng tràm hoa vàng. Hết chu kỳ 7 năm đầu tiên thì thu hoạch được 300 triệu đồng trên diện tích 5 ha. “Lúc này, tôi dự định trồng cao su nhưng sau khi khảo sát biết không phù hợp nên quyết định mở rộng diện tích trồng tràm”, anh Hải cho hay. Đến nay, gia đình anh có 13 ha keo lai giâm hom và keo tai tượng. Ngoài ra, anh còn nuôi cá, lợn và trồng sắn, lúa nước để phục vụ nhu cầu của gia đình. Nay, gia đình anh đã có của ăn của để và thuộc diện khá giả trong vùng.
          Ngồi dưới mái nhà sàn vững chãi nhìn ra màn mưa dày đặc, già làng Nguyễn Văn Hiếu (76 tuổi) nói với tôi rằng: “Ngoài giờ làm việc ở Ủy ban xã, anh Hải thường xuyên đến thăm hỏi các gia đình trong thôn và tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với bà con dân bản. Trong thôn, người dân cần vốn làm ăn hay con giống, cây giống đều được anh hỗ trợ miễn phí, nhiệt tình. Với người dân Tà Lao, anh Hải như là ngọn đuốc sáng, soi đường, dẫn lối để dân bản đi theo vậy”.
          Bí thư Đảng ủy xã Tà Long Hồ Thị Cam cho biết thêm, Tà Lao hiện là chi bộ điển hình của xã về phong trào làm ăn phát triển kinh tế và tình hình an ninh trật tự. Có được như vậy, một phần nhờ vào anh Hải. Bởi, người dân thấy anh Hải sử dụng nguồn vốn có hiệu quả nên học tập, làm theo. Từ đó, đời sống người dân dần được cải thiện, dân trí được nâng cao an ninh trật tự trong thôn được giữ vững. Cá nhân anh Hải nhiều lần nhận được giấy khen, bằng khen từ chính quyền và ban, ngành các cấp”.

Tác giả bài viết: Trần Thanh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Văn bản mới ban hành
Giấy mời họp
Thông báo kết luận
Lịch công tác
Tài liệu iso
Trả lời công dân
Văn bản người dân cần biết
Chủ trương chính sách
Thông tin chính sách thuế mới
Hỗ trợ quyết toán thuế

Hình ảnh

+ Xem tất cả

Video clip

hệ thống thông tin cán bộ công chức
Cong thong tin dien tu chinh phu
Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị
Công báo tỉnh Quảng Trị
Dân chấm điểm (M-score)

Thống kê lượt truy cập

  • Đang truy cập: 19
  • Hôm nay: 471
  • Tháng hiện tại: 39264
  • Tổng lượt truy cập: 2222352