Tọa đàm kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Đăng lúc: Thứ sáu - 30/01/2015 14:36 - Người đăng bài viết: tranminhhien
Nhân kỉ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2015), Huyện ủy huyện Đakrông đã tổ chức buổi tọa đàm nhằm ôn lại lịch sử, truyền thống của Đảng, khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với những thành quả của cách mạng Việt Nam. Tham dự buổi tọa đàm có đồng chí Ly Kiều Vân - TUV - Bí thư Huyện ủy; Nguyên Bí thư, Phó bí thư huyện qua các thời kì; các đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện ủy, Thường trực UBND huyện, lãnh đạo các ban đảng, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện, tập thể cán bộ Huyện ủy…
Đồng chí Đỗ Văn Bình - PBT thường trực Huyện ủy đọc diễn văn tại buổi tọa đàm

Đồng chí Đỗ Văn Bình - PBT thường trực Huyện ủy đọc diễn văn tại buổi tọa đàm

       Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Chúng lập ra chế độ thống trị tàn bạo, thi hành các chính sách cai trị chuyên chế, biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắc lực. Chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố hết sức dã man, tàn bạo, chia rẽ dân tộc, tôn giáo… mọi phong trào yêu nước bị đàn áp dã man. Chúng vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao động nhân dân Việt Nam “tới tận xương tủy”, thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước ta, thực hiện chính sách ngu dân… khiến đời sống của dân ta bị bần cùng hóa, nền kinh tế bị què quặt, gây nên những hậu quả nghiêm trọng kéo dài nhiều năm. Trong tình hình ấy đã xuất hiện nhiều ngọn cờ khởi nghĩa chống lại chế độ áp bức của thực dân Pháp và nhà nước phong kiến vốn cũng làm tay sai cho thực dân Pháp. Liên tiếp từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm phong trào yêu nước nổi lên, trong đó phải kể đến phong trào Cần Vương, phong trào Đông du, Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Duy Tân… nhiều nhân sĩ yêu nước đã xuất hiện, trong đó phải kể tới Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học…
     Thế nhưng tất cả các phong trào đấu tranh ấy đều bị thất bại, bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo. Trong tình hình ấy, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Trong nhiều năm trời bôn ba, Người phải lao động cực khổ, nhưng luôn giữ vững ý chí tìm đường giải phóng dân tộc, mang lại đời sống ấm no cho dân tộc Việt Nam.


             Nguyễn Ái Quốc tại hội nghị Versailles (Pháp) năm 1919

       Người tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, sau này trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, được biết đến với tên gọi Nguyễn Ái Quốc. Người tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận động phong trào cách mạng thuộc địa, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân. Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) làm chấn động dư luận quốc tế, đồng thời tác phẩm cũng là nguồn động viên tinh thần mạnh mẽ, khích lệ tinh thần đấu tranh giải phóng áp bức của các dân tộc thuộc địa. Tháng 12/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản nhằm giải quyết những mâu thuẫn đang có giữa những người cộng sản ở Đông Dương. Tại đây, Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường kách mệnh (1927)… một mặt tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong nước, mặt khác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.
        Chủ nghĩa Mác-Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhiều tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo.
       Trong giai đoạn này đã có 3 tổ chức thành lập gồm: Đông Dương Cộng sản Đảng (thành lập tại Bắc Kỳ ngày 17/6/1929); An Nam Cộng sản Đảng (thành lập ở Nam Kỳ, Mùa thu năm 1929); Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (thành lập ở Trung Kỳ, ngày 1/1/1930). Tuy vậy, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Từ ngày 6/1 đến 7-2-1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản được tổ chức tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng… đó là một mốc son chói lọi đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo được hội nghị thông qua đã xác định: Cách mạng việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.
        Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã quy tụ được các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp đấu tranh chống thực dân – phong kiến. Trải qua 15 năm gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng ta tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân và lật nhào chế độ phong kiến tay sai thối nát tồn tại trong gần một thế kỷ, lập nên nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
      Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới với mục tiêu giành độc lập tự do, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, thế nhưng nhà nước non trẻ ngay lập tức phải đối mặt với ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nạn đói hoành hành đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào chết đói; hơn 95% người dân mù chữ. Trong lúc ấy, ở miền Bắc có hơn 20 vạn quân Tưởng, miền Nam trên 15 vạn quân Pháp lăm le xâm lược nước ta. Trước tình hình ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Đảng ta kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đảng ta đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân, triệu người như một, vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm tưởng như không qua được, củng cố, giữ vững chính quyền cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp. Bất chấp nguyện vọng của nhân dân ta và mặc dù chúng ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp vẫn không từ bỏ dã tâm cướp nước ta lần nữa. Lich sử đã đặt dân tộc ta trước một thử thách gay go mới, phải đứng lên bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, với những từ ngữ đanh thép: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”.
     Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mạnh là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm nên trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Hình ảnh cờ đỏ sao vàng tung bay trên trận địa Điện Biên Phủ mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam cũng khích lệ tinh thần cho các dân tộc đang chịu áp bức vùng lên giành độc lập, đập tan chế độ chủ nghĩa thực dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.


                                         Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta ngày càng đổi mới

         Thắng lợi đó làm sáng tỏ một chân lý, trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù là nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác-Lênin để giành độc lập và dân chủ, thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Thắng lợi đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đường lối cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân thù và giành tự do, độc lập. Giành chiến thắng vang dội trước thực dân Pháp, nhưng hai miền đất nước vẫn bị chia cắt bởi đế quốc Mỹ đã lợi dụng thời cơ xâm chiếm miền Nam. Trong hoàn cảnh cam go ấy, Đảng ta xác định là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước. Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.
       Trong tình hình ấy, miền Bắc giữ vai trò quyết định, làm hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong cuộc kháng chiến kéo dài 21 năm ấy, đế quốc Mỹ đã huy động và sử dụng một lực lượng quân sự và phương tiện chiến tranh khổng lồ hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng nước ta. Nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu kiên cường, từng bước giành thắng lợi oanh liệt bằng cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.
        Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, giang sơn thu về một mối, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp và tình hình trong nước có nhiều khó khăn, Đảng ta vẫn vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng. Cùng một lúc, chúng ta phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế đất nước, ổn định mọi mặt đời sống của nhân dân; vừa phải củng cố chính quyền cách mạng, đập tan âm mưu phản kháng của các phần tử phản động trong nước cấu kết với các thế lực phản động quốc tế. Thêm vào đó, những sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí ở buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đưa đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng.
         Trước tình hình đó, bằng bản lĩnh và nghị lực, kinh nghiệm và ý chí cũng như trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, Đảng ta đã nghiêm túc nhìn thẳng vào sự thật, chỉ ra những khuyết điểm sai lầm chủ quan, dũng cảm khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đưa đất nước tiếp tục tiến lên trên cơ sở kiên định mục tiêu, lý tưởng: "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội". Sau 30 năm đổi mới, như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nhận định, đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu đó đã làm thay đổi lớn diện mạo của đất nước từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội. Quốc phòng an ninh được giữ vững và tăng cường. Vai trò, vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế... sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên. Dư luận quốc tế ghi nhận:‘Thắng lợi của đổi mới ở Việt nam có ý nghĩa quốc tế, có tầm quan trọng lịch sử ở mức độ góp phần quyết định tương lai của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, mở ra triển vọng khắc phục các cuộc khủng hoảng, thúc đẩy sự hình thành một trật tự thế giới công bằng hơn“. Một trong những nguồn gốc của thành tựu ấy là Đảng ta đã xây dựng cho mình một lý thuyết đổi mới khoa học, cách mạng và phù hợp, kết hợp với những kinh nghiệm lịch sử vô giá Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta duy trì thành quả cách mạng, duy trì nền độc lập, chủ quyền và tự do.
         Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 85 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng khẳng định rằng, nhờ được trang bị lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng và phát triển vào thực tiễn cụ thể của cách mạng Việt Nam nên Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta không chỉ đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, mà còn góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Chúng ta không chỉ bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc mà còn đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, tạo ra những điều kiện cần thiết để đẩy nhanh nhịp độ phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Những thành tựu to lớn của nhân dân ta 85 năm qua cũng khẳng định rằng, chỉ có Đảng ta, một Đảng mác xít chân chính, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam là Đảng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là sự lựa chọn có tính khách quan, được nhân dân Việt Nam kiểm nghiệm qua lịch sử trong suốt 85 năm đấu tranh anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, mỗi chúng ta vô cùng tự hào về Đảng, về lịch sử quang vinh của Đảng. Đảng ta xứng đáng "là đạo đức, là văn minh" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.
        Tự hào về Đảng, chúng ta cũng tự hào về lớp lớp những tấm gương cao đẹp của các đảng viên cộng sản qua các thời kỳ và mãi mãi ghi nhớ công ơn về những cống hiến của các đảng viên cho đất nước trong sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Càng tự hào về dân tộc và nhân dân anh hùng, về Đảng quang vinh, chúng ta càng biết ơn sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta. Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một sự nghiệp vẻ vang, một di sản vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và một tấm gương trong sáng, mẫu mực, trọn đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
        Cùng với sự lớn mạnh của Đảng, trong những năm qua, Đảng bộ huyện Đakrông luôn là hạt nhân lãnh đạo huyện vượt qua những thách thức, từng bước trưởng thành và phát triển. Trong mỗi giai đoạn phát triển của huyện, Đảng bộ luôn thể hiện vai trò lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện để huyện Đakrông hoàn thành xuất sắc mọi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Từ những khó khăn ban đầu của ngày mới thành lập huyện (1/1/1997) mỗi thời kỳ, Đảng bộ huyện luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, nhất trí, cộng sự, cùng các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặt ra. Những thắng lợi rực rỡ đó đã tô thắm lá cờ truyền thống vinh quang của huyện, được Đảng và Nhà nước, nhân dân trên địa bàn ghi nhận và trân trọng, là động lực, là niềm tin để toàn thể nhân dân, cán bộ huyện hôm nay phấn đấu xây dựng huyện ngày càng phồn vinh, vững mạnh.
        Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ một huyện nghèo được thành lập trên cơ sở 10 xã khó khăn của huyện Hướng Hóa và 3 xã khó khăn của huyện Triệu Phong. Trải qua hơn 17 năm xây dựng và phát triển kể từ ngày thành lập, đến nay huyện Đakrông đã có những bước phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì và phát triển ổn định, giá trị sản xuất tăng từ 25,4 tỷ đồng (năm 1997) lên 239,4 tỷ đồng (năm 2009) và đạt 497,8 tỷ đồng (năm 2014). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất nông lâm thuỷ sản có sự phát triển khá toàn diện, phù hợp với đặc điểm từng vùng; đã khai thác được những tiềm năng, lợi thế sẵn có và huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ đắc lực cho việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Tổng giá trị sản xuất ngành tăng từ 16,5 tỷ đồng (năm 1997) lên 92,5 tỷ đồng (năm 2009) và đạt 184 tỷ đồng (năm 2014). Diện tích gieo trồng hàng năm liên tục được mở rộng, năng suất, sản lượng các loại cây trồng, sản phẩm hàng hoá nông nghiệp không ngừng được nâng cao. Công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan tâm đầu tư và có bước phát triển, bình quân mỗi năm trồng được trên 800 ha rừng tập trung, đến nay, độ che phủ rừng đạt 64%. Hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển. Lĩnh vực văn hoá- xã hội cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo được triển khai đầy đủ, kịp thời, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người hiện nay tăng gấp 11,7 lần so với khi mới thành lập huyện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm từ 5-6%, đến nay chỉ còn 25,9%. Tình hình an ninh chính, trật tự an toàn xã hội ổn định và tiếp tục được tăng cường, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và phát huy. Với những thành tích đã đạt được đó, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã kí quyết định trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện Đakrông trong năm 2014.
      Công tác xây dựng Đảng đã được đẩy mạnh trên cả 3 nhiệm vụ: Chính trị, tư tưởng, tổ chức. Trên lĩnh vực chính trị, việc tổ chức, quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Từ đó tạo nên sự đồng thuận về mặt nhận thức tư tưởng chính trị của cán bộ đảng viên từ trong cấp uỷ đến các ngành, các địa phương. Qua 18 năm xây dựng và trưởng thành từ một Đảng bộ lâm thời chỉ 27 tổ chức cơ sở Đảng với 558 đảng viên, đến nay có 37 tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc, 176 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở với 2.136 đảng viên, những năm gần đây bình quân mỗi năm kết nạp được từ 120 đến 150 đảng viên mới. Đặc biệt năm 2014, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã tập trung chỉ đạo xoá được 08 chi bộ thôn, bản sinh hoạt ghép, đến nay tất cả 102/102 thôn, bản đều đã có chi bộ, đạt chỉ tiêu theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV đề ra.


                           Đồng chí Ly Kiều Vân, Bí thư Huyện ủy tặng hoa cho các nguyên lãnh đạo huyện

         Một mùa xuân mới đang đến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Đakrông tràn đầy tin tưởng quê hương Đakrông sẽ tiếp tục thay da đổi thịt, đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững theo mục tiêu cao đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sẽ đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa, mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi./.
Tác giả bài viết: Phan Xuân Liệu - Minh Hiển
Nguồn tin: Huyện ủy huyện Đakrông; dangcongsan.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Văn bản mới ban hành
Giấy mời họp
Thông báo kết luận
Lịch công tác
Tài liệu iso
Trả lời công dân
Văn bản người dân cần biết
Chủ trương chính sách
Thông tin chính sách thuế mới
Hỗ trợ quyết toán thuế

Hình ảnh

+ Xem tất cả

Video clip

hệ thống thông tin cán bộ công chức
Cong thong tin dien tu chinh phu
Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị
Công báo tỉnh Quảng Trị
Dân chấm điểm (M-score)

Thống kê lượt truy cập

  • Đang truy cập: 18
  • Khách viếng thăm: 17
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 2040
  • Tháng hiện tại: 59028
  • Tổng lượt truy cập: 3050403