Đồng chí Lê Duẩn - Một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam

Đăng lúc: Thứ năm - 06/04/2017 12:19 - Người đăng bài viết: tranminhhien
Đồng chí Lê Duẩn - Một tư Đồng chí Lê Duẩn thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng ta, một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà lãnh đạo lỗi lạc của cách mạng Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng gần 60 năm của đồng chí gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam từ những năm 20 đến những năm 80 của thế kỷ XX. Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam
Tổng Bí thư Lê Duẩn gặp gỡ các cán bộ lão thành cách mạng tỉnh Cửu Long (tháng 1/ 1981)

Tổng Bí thư Lê Duẩn gặp gỡ các cán bộ lão thành cách mạng tỉnh Cửu Long (tháng 1/ 1981)

Một trong những đặc điểm nổi bật ở đồng chí Lê Duẩn là tư duy độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, đặc biệt là trong những tình huống phức tạp, trước những bước ngoặt của lịch sử. Tư duy độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo ở đồng chí Lê Duẩn được thể hiện từ rất sớm. Thuở nhỏ, cậu bé Lê Văn Nhuận (tên của đồng chí Lê Duẩn) đã là người say mê tìm tòi cái mới, đam mê tranh luận. Có lần đồng chí tâm sự: “Tôi là người hay cãi. Khi còn nhỏ tôi hay hỏi vặn ba tôi những điều ông dạy mà tôi cho là có chỗ chưa hợp lý. Tại các cuộc thảo luận ở nhà tù, tôi là người thích tranh luận, nhiều khi lật lại những luận cứ đã được nhiều người cho là chân lý bất di bất dịch”. Đồng chí Lê Duẩn tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928, và năm 1930 trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng.
Năm 1931, đồng chí là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ. Trong năm đó, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm tù và lần lượt bị giam ở các nhà tù Hà Nội, Sơn La, Côn Đảo. Đồng chí đã biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, tranh thủ thời gian để học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng, rèn luyện thêm trí tuệ và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản với tư duy độc lập, sáng tạo. Những bạn tù ở Côn Đảo kể lại: “Trong các buổi học ở trong tù, anh ghi chép ít, nhưng đọc và nghiền ngẫm, suy tư thì nhiều. Anh đào sâu tìm ra bản chất vấn đề, không dừng lại ở câu chữ. Anh liên hệ với cuộc sống, với hoạt động cách mạng, không giam mình trong sách vở. Đặc biệt, khi thảo luận, trong lúc nhiều người nhắc lại bài giảng và sách vở hoặc trích dẫn từng câu chữ, thì Anh Ba thường nêu ra những câu hỏi và những câu trả lời, lật đi lật lại vấn đề, diễn đạt bằng cách hiểu và ngôn ngữ của mình”. Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta và thắng lợi của Mặt trận Bình dân Pháp, thực dân Pháp ở Đông Dương buộc phải trả lại tự do cho nhiều chiến sĩ cách mạng. Cuối năm 1936, vừa ra khỏi nhà tù, đồng chí tiếp tục hoạt động ở các tỉnh miền Trung.
Năm 1937, đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Cùng với tập thể Xứ ủy, đồng chí đã lãnh đạo phong trào Mặt trận dân chủ ở miền Trung với nhiều chủ trương và phương pháp sáng tạo. Đồng chí không tán thành cả hai khuynh hướng chỉ chú trọng hoạt động bí mật hoặc chỉ chú trọng hoạt động công khai, mà chủ trương kết hợp cả hai hoạt động đó, nhằm tranh thủ các lực lượng yêu nước và dân chủ, mở rộng các hoạt động đấu tranh cách mạng. Hoạt động tích cực và tư duy sáng tạo của đồng chí góp phần quan trọng đưa tới cao trào đấu tranh sôi nổi trong cả nước thời kỳ này. Năm 1939, đồng chí Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Đồng chí đã cùng với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), quyết định thành lập Mặt trận Phản đế Đông Dương thay Mặt trận dân chủ, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tập trung mũi nhọn vào bọn đế quốc và tay sai, chuẩn bị điều kiện trực tiếp đánh đổ thực dân, phát xít, giành độc lập dân tộc. Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược quan trọng, đưa cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta sang giai đoạn mới. Sau này, trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng...”, đồng chí Lê Duẩn tổng kết: “Đó là một thời kỳ chuẩn bị điều kiện để đưa quần chúng vào những trận chiến đấu quyết liệt mới trong thời kỳ 1940-1945”, dẫn đến thành công của Cách mạng Tháng Tám.
Năm 1940, đồng chí Lê Duẩn bị địch bắt ở Sài Gòn và đày đi Côn Đảo lần thứ hai. Đến Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được Đảng đón về đất liền, tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tại Đại hội II của Đảng (năm 1951), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (từ năm 1945 đến năm 1954), với tư duy năng động, sáng tạo và là người lãnh đạo chủ chốt của cách mạng miền Nam, đồng chí đã vận dụng sáng tạo đường lối, phương châm kháng chiến do Trung ương Đảng đề ra, cùng với Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam giải quyết một loạt vấn đề thuộc chiến lược cách mạng: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; thống nhất các lực lượng vũ trang; tiến hành cải cách ruộng đất trong các vùng giải phóng; phát huy vai trò của nhân sĩ, trí thức, động viên mọi tầng lớp nhân dân cả ở nông thôn và thành thị đứng lên chống giặc, cứu nước... Nhờ đó, đã lãnh đạo quân và dân Nam Bộ anh dũng kháng chiến, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.
Cảm phục về sự hoạt động nhiệt thành, lối tư duy năng động, sáng tạo và trí tuệ uyên bác của đồng chí Lê Duẩn, nhiều trí thức yêu nước, cán bộ cách mạng và đồng bào Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã ví đồng chí là “ngọn đèn hai trăm nến”, bởi đồng chí giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược rất sắc bén, có nghệ thuật lãnh đạo độc đáo, có tư duy lý luận và thực tiễn phong phú, có tầm nhìn xa, thấy rộng, có tư tưởng tiến công và luôn sáng tạo. Đã có lần Bác Hồ khen đồng chí khi Người đọc báo cáo của đồng chí từ Nam Bộ gửi ra: “Chỉ có mấy trang mà nêu rõ được các vấn đề lớn ở Nam Bộ”.
Nói về tư duy độc lập, năng động, sáng tạo của đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Võ Văn Kiệt kể lại: “Anh (Lê Duẩn) thường nói: Thực tế đa dạng lắm. Không chủ trương nào có thể đúng hoàn toàn với tất cả mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Nắm chắc nghị quyết không có nghĩa là thuộc lòng câu chữ. Thực hiện nghị quyết không có nghĩa là áp dụng cứng nhắc. Làm việc với cơ sở, nghị quyết phải bỏ trong túi chứ đừng mang ra đọc. Phải hỏi kỹ tình hình và cách giải quyết các vấn đề cụ thể của cơ sở. Những gì cơ sở làm đúng với tinh thần của nghị quyết thì xác nhận, khích lệ. Những gì chưa đúng thì gợi mở thảo luận, giúp tìm ra cách làm cho đúng. Những điểm nghị quyết chưa phù hợp thì phải ghi nhận. Có như vậy mới phát huy được sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của cơ sở, biến nghị quyết của cấp trên thành nghị quyết của cơ sở”. Đây là bài học và kinh nghiệm quý trong việc phát huy tính năng động, sáng tạo của cơ sở và cán bộ ta trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả bài viết: Báo Quảng Trị
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Văn bản mới ban hành
Giấy mời họp
Thông báo kết luận
Lịch công tác
Tài liệu iso
Trả lời công dân
Văn bản người dân cần biết
Chủ trương chính sách
Thông tin chính sách thuế mới
Hỗ trợ quyết toán thuế

Hình ảnh

+ Xem tất cả

Video clip

hệ thống thông tin cán bộ công chức
Cong thong tin dien tu chinh phu
Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị
Công báo tỉnh Quảng Trị
Dân chấm điểm (M-score)

Thống kê lượt truy cập

  • Đang truy cập: 37
  • Khách viếng thăm: 26
  • Máy chủ tìm kiếm: 11
  • Hôm nay: 1617
  • Tháng hiện tại: 91293
  • Tổng lượt truy cập: 3537642